Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

Audio book Mụ phù thủy

Link nghe audio + book miễn phí: http://vnaudiobook.com/audio-books-Mu-phu-thuy-503.html

Giới thiệu cuốn sách:
Trời chuyển về đêm. Trong gian nhà nhỏ dùng làm nơi canh giữ nhà thờ, thầy trợ tế Saveli Gykin nằm trên giường đắp một cái chăn to tướng. Thầy chưa ngủ, mặc dù hàng ngày thầy vẫn thường đi ngủ vào lúc gà lên chuồng. Từ một góc chiếc chăn may bằng những mẩu vải phin đủ màu sặc sỡ, thò ra đám tóc hung đỏ cứng nhắc của thầy, còn góc kia thò ra đôi chân đã lâu không rửa. Thầy trợ tế đang nghe ngóng... 

Gian nhà trổ vào tường rào nhà thờ, chiếc cửa sổ duy nhất của nó nhìn ra cánh đồng. Ở đó đang diễn ra trận ác chiến. Khó có thể hiểu nổi kẻ nào tính loại kẻ nào khỏi trần gian và ai muốn muốn giết ai, mà trời đất bị quần đảo tới vậy. Song, căn cứ vào tiếng gầm rít điên cuồng không dứt, rõ là có người đang gặp cơn bĩ cực. Kẻ thắng cuộc đuổi bắt kẻ thù trên cánh đồng. Nó lồng lộn trong rừng và trên nóc nhà thờ, nổi cơn thịnh lộ, giận dữ đấm vào cửa sổ, còn kẻ thua cuộc thì khóc rống lên.... Tiếng khóc lúc thì nghe thấy sau cửa sổ, lúc trên mái nhà, lúc trong lò sưởi. Đó không phải tiếng kêu cứu, mà là nỗi sầu thảm, là cái ý thức hiểu ra rằng tất cả đã quá muộn, đã vô phương cứu vãn. Lớp vỏ mỏng của những đống tuyết sốp khẽ động đậy và từ đó những dòng nước lẫn bụi bẩn sẫm màu chảy tràn trên con đường mòn. Mặt đất tan băng đang ấm dần, nhưng bầu trời bị những đám mây đen che khuất không nhìn thấy điều đó, cứ ra sức vãi lên nó từng nắm bông tuyết mới. Còn gió thì đảo đồng đảo địa, như thể một gã say... Nó không cho những bông tuyết yên thân trên mặt đất, mà cuốn vào bóng đêm theo ý mình.
Gykin cau có lắng nghe thứ âm nhạc đó. Số là thầy trợ tế đã hiểu, hay ít nhất cũng đã đoán ra sự om xòm, lộn sộn sau cửa sổ sẽ dẫn đến đâu và ai là kẻ gây ra điều đó.
- B-i-ế-t mà! - Thầy trợ tế lẩm bẩm, lấy ngón tay dọa ai đó dưới chăn - Ta đã biết tất cả!
Cạnh cửa sổ, vợ thầy, cô Raisa Nilovna đang ngồi trên ghế. Chiếc đèn dầu bằng sắt tây đặt trên chiếc ghế khác hình như đang bối rối, không tin vào sức mình, nên cứ chập chờn chiếu ánh sáng yếu ớt lên đôi vai rộng, lên những đường cong ngon lành của tấm thân và chiếc đuôi sam nặng, dài chấm đất của người đàn bà. Cô đang may bao từ vải gai thô. Đôi tay cô thoăn thoắt, toàn thân cô, cặp mắt, lông mày, đôi môi mọng, cái cổ trắng ngần im lìm, chìm vào công việc đơn điệu, máy móc, như thể đang ngủ. Thỉnh thoảng cô mới ngẩng đầu để cái cổ được nghỉ ngơi, nhìn nhanh lên cửa sổ mà đằng sau nó bão tuyết đang lồng lộn, rồi lại tiếp tục cúi xuống cái bao đang may dở. Không nỗi khát khao, không nỗi buồn, không niềm vui - không có bất cứ biểu hiện gì trên khuôn mặt đẹp có cái mũi hếch và hai lúm đồng tiền trên má, trông cô giống như đài phun nước không làm việc.
May xong cái bao, cô quẳng nó sang bên, khoan khoái vươn vai, dừng cái nhìn đờ đẫn, bất động lên cửa sổ... Trên tấm kính, những giọt nước mắt đang bơi xen lẫn những bông tuyết trắng mỏng manh. Có một bông tuyết nhỏ đậu trên đó liếc nhìn cô, rồi tan ra...
- Đi ngủ đi! - Viên trợ tế lầu bầu.
Cô vợ im lặng. Nhưng bỗng nhiên hàng mi cô động đậy và trong đôi mắt ánh lên sự chú ý. Saveli nãy giờ nằm trong chăn theo rõi nét mặt vợ, thò đầu ra hỏi:
- Gì thế?
- Không có gì... Hình như có ai đó đang đi... - Cô vợ khẽ trả lời.
Thầy trợ tế lấy tay và chân hất tung chiếc chăn khỏi mình, ngồi dậy, quỳ trên giường, thẫn thờ nhìn vợ. Ánh sáng rụt rè của chiếc đèn dầu chiếu lên cái mặt rỗ hoa lông lá và trườn trên cái đầu tóc cứng lởm chởm.
- Nghe thấy không? - Người vợ hỏi.
Trong tiếng gầm rú đơn điệu của cơn bão tuyết, khó khăn lắm thầy trợ tế mới nghe thấy tiếng kêu âm âm, khe khẽ, giống như tiếng muỗi đậu trên má và bực bội vì bị quấy nhiễu.
- Đó là xe bưu điện... - Saveli lẩm bẩm, đặt mông lên hai gót chân.
Cách nhà thờ ba vesta chiếc xe thư đang nằm đó. Khi gió thổi từ đường cái về phía nhà thờ thì những người trong gian nhà canh nghe rõ tiếng chuông xe.
- Lạy Chúa, trời đất thế này mà họ vẫn phải đi! - Cô trợ tế thở dài.
- Việc công. Muốn hay không vẫn cứ phải đi...
Tiếng chuông ngưng lại trong không trung rồi tắt lặng.
- Đi qua rồi! - Saveli nói và nằm xuống.
Nhưng thầy trợ tế chưa kịp đắp chăn thì lại nghe thấy tiếng chuông vọng tới rõ mồn một. Anh ta lo lắng liếc nhìn vợ, nhẩy từ trên giường xuống đất và xiêu vẹo đi đi lại lại bên bếp lò. Chuông kêu được một lúc, lại tắt lặng, như thể bị giật đứt.
- Không nghe thấy gì... - Thầy trợ tế lẩm bẩm, dừng lại, nheo mắt nhìn vợ.
Đúng lúc ấy gió đập vào cửa sổ mang theo tiếng rên khe khẽ, âm âm... Saveli tái mặt, dặng hắng và lại nện chân trần trên sàn nhà.
- Xe bưu điện bị lạc! - Trợ tế nói giọng khàn khàn, giận giữ liếc vợ - Cô cũng nghe thấy chứ? Xe bưu điện bị lạc! Tôi... tôi đã biết mà! Sao tôi lại không hiểu cơ chứ? - Anh ta lẩm bẩm. - Tôi biết tỏng cô là con đàn bà hư hỏng!
- Anh biết cái gì? - Cô trợ tế khẽ hỏi, mắt không rời cửa sổ.
- Tôi biết tất cả những chuyện này là do một tay cô làm, đồ quỷ cái! Cô gây ra để có cớ mà sa ngã! Cả bão tuyết, cả cái xe bị lạc... Tất cả đều do cô gây ra! Chính cô!
- Điên! đồ ngu... - Cô trợ tế bình thản nhận xét.
- Tôi theo rõi cô từ lâu rồi! từ lúc mới cưới, ngay hôm đầu tiên tôi đã thấy cô có máu chó cái!
- Phù! - Raisa ngạc nhiên, nhún vai và làm dấu thánh - Làm dấu đi, đồ ngốc!
- Phù thủy vẫn là phù thủy. - Saveli tiếp tục, giọng khò khè, như khóc, vội vã xỉ mũi vào ống tay áo - Dù cô có là vợ tôi, dù cô có thuộc dòng dõi chức sắc nhà thờ, nhưng tôi thì tôi cứ nói thẳng toẹt ra cô là cái hạng người nào... Còn gì nữa? Xin Chúa che chở, rủ lòng thương! năm ngoái, vào ngày lễ tiên tri Danhil và ba vị tông đồ [1] chả có bão tuyết là gì - Và cái gì đã xảy ra? Một gã thợ rẽ vào sưởi ấm. Sau đấy, tới ngày lễ Aleksi-người nhà trời, sông chả nổi sóng cuồn cuộn là gì, rồi thầy cẩm huyện cũng lại được đưa tới... Cả đêm hắn ngồi với cô, tên khốn, đấu hót, thế rồi đến sáng, lúc hắn bước ra, tôi nhìn thấy cái mặt hắn, mắt thì có quầng, má thì chảy xệ! Sao hả? Còn vào ngày lễ Cứu Thế dông nổi hai lần, cả hai lần thằng thợ săn đều tới ngủ đêm ở đây. Tôi nhìn thấy cô cho cái thằng khốn nạn ấy vào tròng như thế nào, nhìn thấy hết! Ô, trông cái mặt kìa, đỏ như tôm luộc! A hả!
- Anh chẳng nhìn thấy cái quái gì cả...
- Lại còn không thấy! Còn mùa đông năm nay thì sao, trước Phục sinh, vào ngày Lễ mười Thánh tử vì đạo ở Krita, hôm ấy bão tuyết cả ngày lẫn đêm... cô nhớ chứ? - Gã thư ký Hội đồng huyện, đồ chó, bị lạc đường, chả dẫn xác tới là gì... Mà cô chài ai cơ chứ, phù, chài một thằng thư lại! Vì cái thằng khốn đó đến đất trời của Chúa cô cũng không tha, làm tình làm tội! mà cái thằng khốn nạn ấy nào có ra hồn người, hệt quỷ sứ, chả giống ai, mặt thì nhăn nhúm, cổ thì vẹo... Giá nó đẹp trai cơ, đằng này, phù, quỷ sa tăng!
Thầy trợ tế lấy lại hơi, chùi bọt mép và lắng tai nghe. Tiếng chuông không còn nghe thấy, nhưng khi gió tốc vào mái nhà, trong bóng đêm sau cửa sổ nó lại nổi lên.
- Bây giờ cũng thế! - Saveli tiếp tục - Không dưng cái xe thư bị lạc! Cứ nhổ vào mắt tôi, nếu cái xe ấy không đến tìm cô! Ô, yêu tinh quỷ cái, biết cách lắm, tìm được trợ thủ đắc lực lắm! nó phù phép vây lấy cái xe, rồi nhoàng một cái đưa tới cái nhà này. Đây b-i-ế-t h-ế-t, n-h-ì-n t-h-ấ-y h-ế-t, không giấu được đây đâu, đồ quỷ cái, con dâm tặc! Bão nổi lên một cái là đây đã biết tỏng mọi ý nghĩ của nhà cô rồi.
- Ngu thế chứ! - Cô trợ tế cười khẩy - Sao, cái đầu ngốc nghếch của anh nghĩ tôi gây ra bất hạnh chắc?
- Hừm... cứ việc cười! Phải cô hay không, không cần biết, đây chỉ thấy: cô mà lên cơn động cỡn là y rằng tiết trời xấu, mà tiết trời xấu y rằng nó mang tới đây một thằng cha điên rồ nào đó. Lần nào cũng vậy! Thế không cô, còn ai vào đây? Chính là cô!
Thầy trợ tế, để cái lí của mình thuyết phục hơn, đặt một ngón tay lên trán, nhắm mắt phải và nói bằng giọng du dương:
- Ôi, điên rồ! Ôi, xin hãy trừng phạt nó như Chúa đã trừng phạt dân Do Thái! Giá cô là người, chứ không phải phù thủy, thì cái đầu cô đã nghĩ ra được, đâu có phải gã thợ, thằng đi săn, tên thư lại, thằng cò, thằng cẩm, mà là quỷ đội lốt đấy! Nghe ra chưa, hả? Giá là người, thì cô đã nghĩ ra được!
- Sao anh ngốc thế hở Saveli! - Cô trợ lý thở dài, thương hại nhìn chồng - Hồi cha tôi còn sống, ở ngay đây, biết bao nhiêu người khác nhau đến để chữa bệnh: cả người trong làng, cả người ở vùng lân cận, người Acmêni từ thôn của của họ. Nghĩ xem, hàng ngày có biết bao nhiêu người tới, nhưng chẳng có ai là quỷ đội lốt cả. Thế mà bây giờ, cả năm mới có một, hai người vì thời tiết rẽ vào nhà chúng ta sưởi nhờ, vậy mà anh, đồ ngốc ạ, độc nghĩ lung tung.
Logíc của cô vợ tác động tới Saveli. Anh ta dạng hai chân để trần, cúi đầu nghĩ ngợi. Thầy trợ tế chưa tin lắm vào những phỏng đoán của mình, nên bị giọng nói bình thản, chân thành của cô vợ phần nào làm nguôi nguôi. Tuy nhiên, nghĩ một chặp, thầy lại lắc đầu:
- Thế tại sao lại chẳng có ông già, hay đứa trẻ nào đến xin ngủ nhờ, mà toàn những gã trai trẻ... tại sao nào? Với lại, sưởi không thôi thì nói làm gì, đằng này lại gãi ngứa cho quỷ. Không, bà xã, cái giống đàn bà là vậy, láu cá chả có gì trên đời này sánh được! óc đàn bà, lậy Chúa, còn bé hơn óc chim sẻ, nhưng ranh thì như quỷ - u-u-u! Xin hãy cứu vớt, lạy Đức Mẹ trên trời! Bão tuyết vừa nổi lên, y rằng mọi ý nghĩ của cô tôi đã biết hết! Cô có phép phù thủy, đồ nhện cái!
- Sao anh cứ nhằng nhẵng mãi thế hở? - Cô trợ tế hết kiên nhẫn - Sao anh cứ bám lấy tôi như đỉa đói [2] vậy?
- Bám lấy cô, à là vì đêm nay, lạy Chúa, xin đừng để chuyện gì xẩy ra... Cô nghe đây! nếu có chuyện gì, ngay sáng sớm mai tôi sẽ tới cha Nikodim, kể cho cha hết tất cả. Thế, thế, tôi nói, Đức cha Nikodim, xin rất thứ lỗi, nhưng cô ta là phù thủy. Tại sao ư? Hừm... cha muốn biết tại sao ư? Xin được phép... thế, thế. Rồi cô khốn nạn cho xem! Không chỉ ở ngày phán xử, mà cô sẽ bị trừng phạt ngay bây giờ, ở trần gian này! không dưng em trai cô có tên trong sổ ghi lễ của nhà thờ.
Bỗng có tiếng gõ cửa sổ, tiếng gõ to và bất bình thường tới nỗi Saveli tái mặt, sợ hãi ngồi thụp xuống. Cô trợ tế đứng bật dậy, mặt cũng tái lại.
- Vì Chúa, cho chúng tôi sưởi nhờ với! - Vọng vào một giọng nam trầm run run - Có ai không? Làm ơn làm phúc! Chúng tôi bị lạc đường!
- Ai ở ngoài đấy? - Cô trợ tế hỏi, không dám nhìn lên cửa sổ.
- Xe bưu điện! - Một giọng khác trả lời.
- Đấy, biết ngay mà, phép quỷ đã ứng nghiệm! - Saveli phẩy tay - Nói có sai đâu... Thế nào, nhìn tôi đây này!
Thầy trợ tế nhảy hai lần trước giường rồi nằm vật lên tấm đệm lông chim, tức giận thở phì phì và nằm quay mặt vào tường. Chẳng bao lâu một làn hơi lạnh đập vào lưng thầy. Cửa kẹt mở và trên ngưỡng cửa là một hình người cao lớn, tuyết bám kín từ đầu tới chân. Đằng sau thấp thoáng một bóng người khác, cũng trắng như thế...
- Mang những cái bao vào chứ? - Hình người thứ hai hỏi bằng giọng khàn khàn.
- Để lại đó sao được!
Vừa nói, người đầu tiên vừa cởi áo khoác ngoài và không đợi được, lột phăng nó qua đầu, cùng với chiếc khăn, giận dữ quẳng xuống cạnh lò sưởi. Sau đó anh ta khi cởi nốt chiếc măng tô, rồi ném luôn vào đống khăn áo. Không chào hỏi ai, anh ta đi đi lại lại trong nhà.
Đó là một người đưa thư còn trẻ, tóc sáng màu, mặc quần áo nhân viên bưu điện nhàu nát, đi đôi ủng màu nâu bẩn thỉu. Sau khi sưởi ấm bằng cách đi lại, anh ta ngồi xuống sau bàn, duỗi đôi chân đi ủng bẩn thỉu lên đống bao và lấy tay đỡ đầu. Cái mặt trắng có những vệt đỏ còn hằn rõ dấu vết của sự đau đớn và nỗi sợ hãi vừa trải qua. Một khuôn mặt méo mó vì giận dữ, với những nỗi đau về thể xác và tinh thần đang còn mới, với những bông tuyết đang tan chảy trên lông mày, trên bộ ria và đám râu quanh cằm, vẫn là một khuôn mặt đẹp.
- Đời chó má thật! - Người đưa thư lẩm bẩm, đưa mắt nhìn những bức tường, dường như không tin rằng mình đã ở nơi ấm áp - Tý nữa thì chết! Không có lò sưởi nhà chị, tôi cũng chẳng còn biết làm thế nào... Có quỷ biết được lúc nào mọi chuyện kết thúc! Cuộc đời chó mà này không biết đâu là cùng! Đây là đâu vậy? - Anh ta hỏi và hạ giọng, ném cái nhìn về phía cô trợ tế.
- Gò Gulaevski thuộc trang ấp của tướng Kalinovski - Cô trợ tế trả lời, đỏ mặt lúng túng.
- Nghe thấy chưa Stepan? - Tay nhân viên đưa thư quay lại nói với gã đánh xe đang mắc kẹt ở cửa với những gói lớn bằng da sau lưng - Chúng mình lạc tới tận gò Gulaevski!
- Vâng... khí xa thật!
Nói xong những lời đó bằng một giọng khào khào, thở rít lên, gã đánh xe bước ra, dừng một chút, rồi vác vào trong nhà một bọc nhỏ hơn, sau đó lại đi ra và lần này mang vào thanh gươm của xe bưu có giây đeo rộng bản, giống như thanh kiếm dài vẽ trong những bức tranh chợ Iudif trên giường của Olofern. Đặt những bọc da cạnh tường, anh ta bước ra phòng ngoài và ngồi đó hút thuốc.
- Các vị dùng trà rồi mới đi chứ ạ? - Cô trợ tế hỏi.
- Còn lúc nào mà trà với trọt! - Người đưa thư càu nhàu. Sưởi cho mau rồi còn phải đi, không thì không kịp chuyến tầu thư. Chúng tôi chỉ ngồi đây độ mươi phút rồi đi ngay. Có điều, làm ơn chỉ đường giúp chúng tôi với...
- Bão tuyết thế này, Chúa trừng phạt đây! - Cô trợ tế thở dài.
- Vâng... xin được hỏi cô làm gì ở đây vậy?
- Chúng tôi ư? Chúng tôi người ở đây, thuộc nhà thờ... Kia là chồng tôi, anh ấy đang ngủ. Saveli, dậy đi mình, dậy chào hỏi khách! Ngày trước, đây là giáo xứ, cách đây năm rưỡi đã bị bãi bỏ. Tất nhiên khi các cha sống ở đây thì giáo dân đông đúc, xứ đạo còn giữ được, bây giờ không có các cha nữa, các bác thử nghĩ coi, nhà thờ sống bằng gì, vì là thôn gần nhất, thôn Markovka ấy, cũng phải cách đây tới năm vesta! Bây giờ Saveli chúng tôi đứng ngoài biên chế và... thay chân người gác. Nhà tôi được giao nhiệm vụ coi giữ nhà thờ...
Người đưa thư còn biết thêm rằng giá như Saveli tới gặp vợ ông tướng, xin bà mấy chữ đưa cho cha bề trên, thì thể nào cũng được bổ vào chỗ tốt; song anh ta không tới gặp bà tướng, phần vì lười, phần sợ mọi người.
- Nhưng dù sao chúng tôi cũng thuộc hạng chức sắc... - Cô trợ tế nói thêm.
- Thế các vị sống bằng gì? - Người đưa thư hỏi.
- Nhà thờ có ít ruộng và đất vườn. Nhưng mà chúng tôi cũng chả kiếm được mấy... - Cô trợ tế thở dài. Cha Nhikodim, tổng quản trợ tế, là người hay ganh ghét, ở đây cả thời gian lễ thánh Nhikola mùa hạ, lẫn mùa đông, vơ cho mình gần hết mọi thứ. Chả có ai bênh vực chúng tôi cả.
- Điêu! - Saveli rít lên - Cha Nhikidim là bậc chí thánh, là ngọn nến của nhà thờ, nếu có lấy các thứ, thì cũng là theo luật định!
- Cô có anh chồng gắt gỏng gớm! - Người đưa thư cười cười khẩy - Thế cô lấy chồng lâu chưa?
- Tính đến chủ nhật vừa rồi là bốn năm. Trước đây cha tôi làm trợ tế ở đây. Khi ông cụ thấy mình chẳng sống được bao lâu, sợ tôi bị mất lộc, đã tới hội đồng nhà xứ, xin họ cử tới đây một thầy trợ tế chưa vợ để làm chú rể. Thế là tôi lấy chồng.
- A hả, anh cu chàng đập một nhát chết hai con ruồi! - Người đưa thư nói, đưa mắt nhìn lưng Saveli - Vừa kiếm được chỗ làm, lại vừa lấy được vợ.
Saveli khó chịu cựa quậy đôi chân và nằm sát vào tường. Người đưa thư đứng dậy, ra khỏi bàn, vươn vai, rồi ngồi lên trên những bọc da. Nghĩ một lát, anh ta nắn nắn mấy chiếc bọc, đặt bao kiếm sang chỗ khác, rồi nằm lên đó, duỗi một chân xuống đất.
- Cuộc đời chó má... - Anh ta lẩm bẩm, lấy tay gối đầu và nhắm mắt lại - sống như thế này thì đến hạng Tác Ta quèn cũng chả buồn sống.
Chẳng bao lâu im lặng trùm lên. Chỉ còn nghe thấy tiếng Saveli thở phì phì, tiếng thở đều đều, chậm chạp của người đưa thư đã ngủ. Cứ mỗi lần thở lại bật ra tiếng khờ-khờ-khờ đậm đặc, kéo dài. Thỉnh thoảng cổ họng anh ta lại rít lên, hệt tiếng rít của bánh xe nhỏ, tiếng chân đập vào những bọc da.
Saveli trở mình dưới tấm chăn, hé mắt nhìn ra. Cô trợ tế vẫn ngồi trên ghế, hai tay chống cằm và nhìn vào mặt người đưa thư. Cái nhìn bất động của một người vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi.
- Này, nhìn cái gì thế? - Saveli giận dữ thì thầm.
- Việc gì đến mình? Nằm xuống! - Cô trợ tế đáp, mắt vẫn không rời mái đầu tóc sáng. Saveli tức giận thở bằng hết không khí trong phổi, rồi quay ngoắt mặt vào tường. Ba phút sau anh ta lại lo lắng trở mình, ngồi dậy, quỳ trên giường, chống tay xuống chiếc gối và liếc xéo vợ. Cô vợ vẫn không nhúc nhích, mắt vẫn nhìn người khách đang ngủ. Má cô trắng nhợt, đôi mắt ánh lên ngọn lửa lạ lùng. Thầy trợ tế ì ạch bò ra khỏi giường, đi tới bên người đưa thư, lấy khăn phủ lên mặt anh ta.
- Mình làm gì thế? - Cô trợ tế hỏi.
- Để anh ta khỏi chói mắt.
- Thì mình cứ tắt hết đèn đi!
Saveli nghi ngờ nhìn vợ, ghé môi gần ngọn đèn dầu, nhưng lập tức dừng lại, phẩy tay.
- Cô lại giở trò quỷ chứ gì. - Thầy trợ tế kêu lên. - Hả? Còn có giống vật nào tinh ranh hơn cái giống đàn bà không đây?
- Có quỷ sa tăng mặc áo vạt dài! - Cô trợ tế rít lên, mặt cau lại giận dữ - Liệu cái thần hồn!
Đổi tư thế ngồi cho dễ chịu, cô lại chăm chú nhìn người đưa thư. Khuôn mặt có bị đóng kín trong lúc ngủ cũng chẳng sao, cái hấp dẫn cô không hẳn là khuôn mặt, mà là toàn thân, là cái mới mà cô phát hiện ở con người này. Anh ta có khuôn ngực rộng, đôi tay đẹp với những ngón dài thuôn thuôn, đôi chân săn chắc, đẹp và khoẻ, hơn đứt “hai chiếc cẳng gà” của Saveli. Thậm chí không thể so được.
- Thì tôi là quỷ sa tăng mặc áo vạt dài đấy. - Saveli nói, dừng lại một lúc, - Nhưng nó cũng không có quyền lăn ra đấy mà ngủ... Việc là việc công, khéo mà mình bị vạ lây, ai bảo giữ nó lại. Công việc chuyển thư, thì phải đi mà chuyển thư, ai lại ngủ thế bao giờ... Ê, anh kia! - Saveli gọi với ra nhà ngoài. - Anh đánh xe... tên gì? Chắc là đến lúc phải dẫn đường cho các vị rồi? Dậy! dậy! làm bưu điện chớ có ngủ cùng thư tín!
Saveli hùng hổ nhảy tới bên người đưa thư, giật giật tay áo anh ta.
- Ê, quý ngài! Nếu phải đi, thì đi đi thôi, còn không đi, thì cũng không được như thế... Không được ngủ.
Người đưa thư ngồi bật dậy, đưa cặp mắt ngái ngủ nhìn xung quanh gian nhà, rồi lại nằm xuống.
- Thế bao giờ thì đi được đây? - Saveli nói như gõ trống, giật tay áo anh ta. - Xe bưu điện thì cần phải tới cho đúng giờ, rõ chửa? Tôi sẽ chỉ đường cho các vị.
Người đưa thư mở mắt. Được sưởi ấm, lử lả vì vừa ngủ ngon đã bị đánh thức và vẫn đang còn ngái ngủ, anh nhìn thấy, như trong màn sương, cái cổ trắng ngần và cái nhìn đăm đăm, ướt át của cô trợ tế. Nhắm mắt lại, anh mỉm cười, nghĩ mình đang mơ thấy tất cả những thứ đó.
- Trời đất như thế này đi đâu! - Anh nghe thấy một giọng phụ nữ êm ái cất lên - Cứ để họ ngủ cho thoải mái!
- Thế còn thư ? - Saveli lo lắng - Ai là người sẽ chuyển thư đây? Cô hẳn? Cô?
Người đưa thư lại mở mắt, nhìn đôi lúm đồng tiền đang động đậy trên khuôn mặt cô trợ tế, nhớ ra mình đang ở đâu và nhận ra Saveli. Chỉ nghĩ tới việc phải ra đi trong đêm hôm giá rét, toàn thân đã nổi cả da gà, anh ngần ngại nói:
- Giá được ngủ thêm năm phút nữa... - Anh ngáp - Đằng nào thì cũng muộn rội...
- Có thể mình tới đúng lúc đấy! - giọng người đánh xe cất lên ở nhà ngoài.- Nhìn xem, chưa tới một giờ và nếu chuyến tàu bị chậm thì mình gặp may.
Người đưa thư ngồi dậy, khoan khoái vươn vai và mặc bành tô.
Saveli nhìn thấy khách chuẩn bị lên đường mừng húm.
- Giúp chúng tôi một tay nào! - Người đánh xe gọi anh ta, tay nâng một bọc thư lên.
Thầy trợ tế chạy tới và cùng anh ta khuân đống bưu phẩm ra xe. Người đưa thư cởi những nút thắt của chiếc áo choàng ngoài. Cô trợ tế nhìn vào mắt anh, vẻ như muốn bắt thân.
- Anh làm cốc trà... - Cô mời.
- Tôi uống cũng được thôi, nhưng mọi người đang chuẩn bị đi rồi! - Anh nói, vẻ đồng tình - Tôi đã bảo đằng nào cũng đã muộn!
- Thì anh cứ ở lại! - Cô thầm thì, mắt nhìn xuống, khẽ chạm vào tay áo anh.
Người đưa thư cuối cùng cũng đã cởi hết các nút của chiếc áo khoác, vắt nó lên tay với vẻ thiếu cương quyết. Anh cảm thấy ấm áp đứng cạnh cô trợ tế.
- Cô có cái... cổ...
Anh lấy hai ngón tay chạm vào cổ cô. Không thấy cô phản ứng, anh vuốt cổ cô, rồi vuốt xuống vai...
- Phù, cô...
- Kệ, cứ ở lại... ở lại uống trà.
- Sao lại đặt như thế? Người đâu mà ẽo ợt [3]! - Tiếng người đánh xe vọng lại từ ngoài sân - Đặt theo chiều ngang ấy.
- Ở lại đi... anh nhìn xem, trời đất vẫn còn quay cuồng thế kia!
Chưa hoàn toàn tỉnh ngủ, chưa rũ khỏi cơn thèm một giấc ngủ sâu của tuổi trẻ, trong lòng người đưa thư bỗng trào lên nỗi khát khao mà vì nó có thể quên đi những bọc thư, quên những đoàn tầu bưu điện... quên tất cả mọi thứ trên đời. Hốt hoảng như thể muốn chạy trốn hay tìm chỗ ẩn nấp, anh nhìn ra cửa, tay ôm ngang lưng cô trợ tế, đầu cúi xuống định thổi tắt đèn. Nhưng vừa lúc tiếng những bước chân vang lên ở nhà ngoài, và người đánh xe hiện trước cửa... Saveli nhìn qua vai anh ta. Người đưa thư buông vội tay và đứng yên, như thể đang nghĩ ngợi.
- Tất cả đã chuẩn bị xong! - Người đánh xe nói.
Người đưa thư đứng một lúc, lắc đầu dứt khoát, như thể tỉnh ngủ hẳn, rồi bước theo gã đánh xe. Còn lại một mình cô trợ tế.
- Được rồi, ngồi xuống đấy, chỉ đường cho bọn tôi! - Cô nghe thấy giọng nói vọng lại.
Tiếng một chiếc chuông lười biếng cất lên, sau đó là chiếc khác, rồi những tiếng chuông làm thành một chuỗi ngân dài, mảnh, vọng lại từ phía ngoài nhà canh.
Khi những tiếng chuông tắt dần, cô trợ tế đứng bật dậy, bồn chồn đi lại từ góc nhà này sang góc nhà kia. Lúc đầu mặt cô tái nhợt, sau đỏ bừng lên. Mặt cô biến dạng bởi nỗi căm thù, hơi thở run rẩy, đôi mắt ánh lên nỗi tức giận điên cuồng, man rợ. Cô lồng lộn đi lại, giống như con hổ bị nhốt trong cũi bị người ta lấy thanh sắt nung đỏ ra dọa. Cô dừng lại một phút nhìn toàn bộ gian nhà. Riêng cái giường đã chiếm gần nửa nhà, chạy dài theo bức tường, trên đó là tấm đệm lông chim bẩn thỉu, những chiếc gối cứng bọc vải xám, cái chăn và những thứ giẻ rách không tên khác. Cái giường trông không còn ra hình thù gì, đó là một đống xấu xí, giống như đám tóc vón lại trên đầu Saveli mỗi khi anh ta nổi hứng chải bi dăng tin.Từ chiếc giường ra tới chỗ cửa mở ra phòng ngoài lạnh lẽo là cái bếp lò đen xì với cả đống nồi niêu, bô, chậu và những mớ giẻ rách. Tất cả mọi thứ, không ngoại trừ cả anh chàng Saveli vừa ra khỏi nhà, đều bẩn hết chỗ nói, bị ám khói và chạt mỡ, thế cho nên, thật lạ lùng giữa khung cảnh ấy nhìn thấy cái cổ trắng ngần, làn da mỏng, mịn màng của người đàn bà. Cô trợ tế chạy tới chiếc giường, giang hai tay như muốn tung hê, giẫm đạp, xé vụn tất cả. Nhưng sau đó, dường như sợ bị dây bẩn, cô lùi lại và lại tiếp tục đi đi lại lại...
Hai giờ sau, khi Saveli trở về mệt nhoài, người bám đầy tuyết, thì cô đã thay quần áo, lên giường ngủ. Cô nhắm mắt, nhưng qua nhưng rung động khe khẽ trên khuôn mặt, thầy trợ tế biết cô chưa ngủ. Trên đường về nhà anh ta đã tự hứa cho tới sáng sẽ im lặng, không thèm rờ đến cô ả. Nhưng không móc máy, chì chiết, anh ta không chịu được.
- Phí công chửa, vừa mới phù phép nó đã đi mất! - Thầy trợ tế nói, cười gằn độc địa.
Cô trợ tế im lặng, chỉ có cằm cô run run. Saveli chậm rãi cởi quần áo, trèo qua người vợ, nằm sát vào tường.
- Mai tôi sẽ tới cha Nhikodim giải thích cho cha biết cô là người vợ như thế nào! - Anh ta lẩm bẩm, cuộn người nằm co quắp.
Cô trợ tế quay phắt lại phía anh ta, quắc mắt.
- Càng rảnh nợ, - Cô nói, - vào rừng mà tìm lấy vợ! Tôi làm vợ anh như thế nào à? Sao anh không nứt trương ra! đồ chẩy thây! Chỉ được cái bám váy vợ! xin Chúa tha tội!
- Thôi, thôi... ngủ đi!
- Sao cái thân tôi nó khổ thế này! - Cô trợ tế nức lên - Giá không có anh có phải tôi đã lấy được lái buôn hay một người tử tế nào đó không! Giá không lấy anh, có phải bây giờ tôi đã yêu chồng rồi không! sao tuyết không vùi anh, sao anh không chết cóng ở ngoài đường cái cho rồi, đồ ngợm!
Cô trợ tế khóc rất lâu. Cuối cùng cô thở dài và im lặng. Sau cửa sổ bão tuyết vẫn hoành hành. Trong bếp lò, trong ống khói, đằng sau tất cả những bức tường, có cái gì đó đang khóc, và Saveli cảm thấy trong người mình, trong tai mình, cái ấy đang khóc. Tối nay anh ta đã hoàn toàn tin vào những phỏng đoán của mình về vợ. Chẳng còn mảy may nghi ngờ, cô vợ nhờ những thế lực ma quái đã điều khiển gió bão và cỗ xe tam mã của bưu điện. Thế nhưng cái điều bí ẩn, cái sức mạnh siêu nhiên và man rợ khiến thầy trợ tế đau khổ nhường ấy, lại làm người đàn bà nằm bên cạnh có một sức quyến rũ đặc biệt, không thể hiểu nổi, điều anh ta chưa từng gặp trước đây. Cái mà vì ngu ngốc anh ta không nhận ra được ở cô, đã thi vị hóa cô, khiến cô càng trở nên trắng trẻo, mịn màng, không sao với tới được...
- Phù thủy! - Thầy trợ tế phẫn uất - Phù, đáng ghét!
Mặc dù vậy, khi cô vợ nằm yên và bắt đầu thở đều, anh chồng đoán cô đã ngủ, lấy tay khẽ chạm vào gáy cô... nắm lấy cái đuôi sam nặng trĩu của cô. Cô không nghe thấy... anh ta bạo dạn hơn, lấy tay vuốt cổ cô.
- Bỏ ra! - Cô vợ gắt lên, lấy khuỷu tay húych mạnh vào hốc mũi anh ta, khiến anh ta nổ cả đom đóm mắt.
Cái đau trong hốc mũi qua nhanh, nhưng nỗi dầy vò thì vẫn còn tiếp tục.
Chú thích:
[1] Danhil - người mộ đạo thông thái, nhà tiên tri, cùng học với ba vị thánh (Anania, Azari và Misail) ở cung điện vua Navokhudonosor (ND)
[2] Nguyên văn: nhựa cây
[3] Nguyên văn: cháo trộn mật - thứ cháo gạo nấu với mật, thường nấu vào các bữa cúng giỗ.
HẾT

Audio book Nhà rồng

Link nghe audio +book miễn phí : http://vnaudiobook.com/audio-books-Nha-rong-Truyen-co-tich-501.html

Audio book Sâu đo và bọ ngựa đi học nghề

Link nghe audio + book miễn phí : http://vnaudiobook.com/audio-books-Sau-do-va-bo-ngua-di-hoc-nghe-Truyen-Co-Viet-Nam--499.html




Audio book Sự tích chú Cuội cung trăng

Link nghe audio + book miễn phí: http://vnaudiobook.com/audio-books-Su-tich-chu-Cuoi-cung-trang-496.html

Giới thiệu cuốn sách  :
Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao.
Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.

Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:

- Trời ơi! Cây này chính là cây có phép "cải tử hoàn sinh" đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó!

Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.

Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.

Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.

Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.

Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.

Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.

Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: "Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!". Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.

Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.

Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.

Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa.

Audio book Sự tích Dưa hấu

Link nghe audio + book miễn phí : http://vnaudiobook.com/audio-books-Su-tich-Dua-hau-495.html

Giới thiệu cuốn sách:
Ngày xưa có một chàng Mai An Tiêm vốn là nô bộc trong cung của Hùng Vương, song vì chàng giỏi giang lắm tài nhiều nghề nên được nhà vua yêu mến, gả con gái nuôi cho, phong làm quan hầu cận và cho phép chàng được dựng một ngôi nhà lớn ở gần cung vua.

Chàng Mai tính tình phóng khoáng, một đêm trăng thanh bỗng cao hứng làm cơm thết đãi khách quan. Khách nào tới dự cũng trầm trồ trước cơ ngơi của chàng. Lời ca tụng chàng cất lên không ngớt. Trong cảnh người người xưng tụng ấy, An Tiêm chỉ cười lớn mà rằng: “Các vị đã quá lời rồi. Tất cả mọi thứ đều là nhờ đôi tay này của tôi cả”… 

Audio book Sự tích Mèo Hello kitty

Link nghe audio + book miễn phí: http://vnaudiobook.com/audio-books-Su-tich-Meo-Hello-kitty-494.html

Giới thiệu cuốn sách:
cuộc sống của người Nhật rất tất bật. Trong thời đại công nghiệp, máy tính và tên lửa, người lớn đi làm, trẻ em đi học, cứ thế hàng ngày, hàng tuần... Họ ít có thời gian để ý đến nhau. Cuộc sống tẻ nhạt, nhưng có lẽ họ không cảm thấy vậy, vì họ còn quá bận rộn với công việc hàng ngày.
Một cô bé sống trong một gia đình điển hình như vậy. Bố mẹ đi làm thì cô bé đến trường, rất ít khi gặp nhau. Cô muốn nói chuyện nhưng không biết nói với ai. Chẳng ai có thì giờ ngồi nghe cô nói. Bạn bè cũng cuốn quýt với những ca học, một số thì mải mê với trò chơi điện tử hiện đại với hình ảnh ảo ba chiều như thật. Cô bé cảm thấy cô đơn và thu mình vào vỏ ốc. Nhưng cô cũng không được yên, vì cô rất bé nhỏ và nhút nhát nên hay bị những đứa trẻ lớp trên trêu chọc, giật cặp sách, giật tóc, đôi khi cả đánh nữa.

Một buổi chiều, khi bị nhóm bạn lớp trên lôi ra làm trò đùa, cô buồn bã đi ra công viên gần nhà, ngồi trên ghế đá và khóc. Khóc một lúc, cô ngẩng lên thì thấy một ông già đang ngồi cạnh mình. Ông già thấy cô ngẩng lên thì hỏi:

- Cháu gái, tan học rồi sao không về nhà mà lại khóc?

Cô bé lại oà lên tức tưởi:

- Cháu không muốn về nhà. Ở nhà buồn lắm, không có ai hết. Không ai nghe cháu nói!

- Vậy ông sẽ nghe cháu!

Và cô bé vừa khóc vừa kể cho ông già nghe tất cả những uất ức, những buồn rầu trong lòng bấy lâu nay. Ông già cứ im lặng nghe, không một lời phán xét, không một lời nhận định. Ông chỉ nghe. Cuối cùng, khi cô bé kể xong, ông bảo cô đừng buồn và hãy đi về nhà.

Từ đó trở đi, cứ tan học là cô bé vào công viên ngồi kể chuyện cho ông già nghe. Cô thay đổi hẳn, mạnh dạn lên, vui vẻ lên. Cô bé cảm thấy cuộc sống vẫn còn nhiều điều để sống.

Cho đến một hôm, cô bé bị một bạn trong lớp đánh. Vốn yếu đuối không làm gì được, cô uất ức và nóng lòng chạy đến công viên để chia sẽ cho vơi bớt nỗi buồn tủi. Cô bé vội vã, chạy qua đèn đỏ...
*
Ngày biết tin cô bé mất, vẫn trong công viên, vẫn trên chiếc ghế đã mà cô bé hay ngồi, có một ông lão lặng lẽ đốt một hình nộm bằng giấy. Đó là món quà mà ông muốn đưa cho cô bé ngày hôm trước, nhưng không thấy cô bé đến. Hình nộm là một con mèo rất đẹp, trắng trẻo, có đôi tai to, mắt tròn xoe hiền lành, nhưng không có miệng. Ông già muốn nó ở bên cạnh cô bé, mãi lắng nghe cô mà không bao giờ phán xét.

Từ đó trở đi, trên bàn học của mỗi học sinh Nhật thường có một búp bê hình mèo không có miệng - Chú mèo hiện nay đã mang hiệu "Hello Kitty" (bạn đã bao giờ để ý mèo Hello Kitty không hề có miệng?) - chú mèo được làm ra với mục đích lắng nghe tất cả mọi người.

Tôi không biết "sự tích" Hello Kitty này có thật hay không. Tôi cũng không phải nhà quảng cáo cho thương hiệu ấy. Tôi chỉ biết mỗi lần nhìn hình chú mèo Hello Kitty là một lần tôi được nhắc nhở phải biết lắng nghe người khác - thực sự lắng nghe.


Audio book Thạch Sanh - Lý Thông

Link nghe audio + book miễn phí: http://vnaudiobook.com/audio-books-Thach-Sanh--Ly-Thong-493.html

Giới thiệu cuốn sách:
Ngày xưa ở quận Cao Bình có hai vợ chồng sống bằng nghề đốn củi, họ là người tốt lành nên Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai làm con. Từ đó người vợ có mang, nhưng mang thai đã lâu mà vẫn chưa sinh nở. Mãi đến khi người chồng bị bệnh chết đi thì người vợ mới sinh được một đứa con trai tên là Thạch Sanh. 
Thằng bé khôn lớn thì người mẹ cũng qua đời. Nó sống dưới gốc cây đa, và phải lên rừng đốn củi nuôi thân. Ngọc Hoàng thương Thạch Sanh nên phái một vị thần xuống dạy cho chàng đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.
Một hôm có người hàng rượu tên là Lý Thông đi qua đó, nghỉ ở gốc cây đa. Gã thấy Thạch Sanh vừa mang về một gánh củi lớn tướng mà vẫn tỉnh bơ như không, chẳng biết nặng nhọc là gì, gã liền nghĩ bụng:
- Người này khỏe như voi. Nếu nó về ở cùng ta thì lợi biết chừng nào.
Nghĩ vậy, Lý Thông tìm cách lân la gạ chuyện rồi đòi kết làm anh em.
Thấy có người lạ tự nhiên săn sóc đến mình, Thạch Sanh cảm động, vui vẻ nhận lời. Sau đó, chàng từ giã gốc đa đến sống chung dưới mái nhà họ Lý.
Nhà Lý Thông vốn chuyên cất rượu. Thạch Sanh đến ở chung, mẹ con hắn quả được một tay đỡ đần rất tốt.
Bấy giờ trong vùng đó có một con Chằn Tinh, có nhiều phép biến hóa thường quấy rối dân chúng. Quan quân nhiều lần đến định diệt trừ nhưng không thể làm gì được. Cuối cùng hằng năm phải cống cho nó một mạng người để nó đỡ phá phách.

Năm ấy đến lượt nhà Lý Thông phải nạp người. Mẹ con hắn hoảng hốt lo sợ, nhưng sau đó nghĩ ra được một mưu để lừa Thạch Sanh đi chết thay.
Chiều hôm ấy, Lý Thông chờ lúc Thạch Sanh đi kiếm củi về, dọn một mâm rượu thịt ê hề mời ăn, rồi bảo:
- Đêm nay đến lượt anh đi canh miếu thờ, ngặt vì đang lỡ cất mẻ rượu, vậy em chịu khó đi ra miếu thay cho anh một đêm, rồi sáng về.
Thạch Sanh nhận lời đi ngay. Nửa đêm hôm ấy, Thạch Sanh đang ngủ thì Chằn Tinh hiện ra. Thạch Sanh cầm búa đánh lại. Yêu quái bị giết, hiện nguyên hình là một con trăn lớn. Chàng vội chặt lấy đầu và nhặt bộ cung tên bằng vàng của yêu quái xách về.
Canh ba đêm ấy, lúc mẹ con Lý Thông đang ngủ, bỗng nghe tiếng Thạch Sanh gọi cửa, hai người hốt hoảng thức dậy, ngờ là oan hồn của chàng hiện về liền van lạy rối rít xin tha mạng.
Nhưng khi thấy rõ là chàng còn sống và nghe kể lại chuyện giết Chằn Tinh thì gã Lý Thông gian manh lại nảy ra một kế khác. Gã liền nói:
- Trời ơi, Con trăn ấy là của nhà vua nuôi đã lâu. Nay em bắt giết nó, tất không khỏi bị tội chết. Thôi, bây giờ nhân trời chưa sáng, em hãy lo trốn ngay đi! Có chuyện gì để mặc anh ở nhà lo liệu!
Nghe nói thế, Thạch Sanh kinh hoàng trốn đi ngay lập tức. Chàng trở lại túp lều ngày xưa bên gốc đa kiếm củi nuôi thân như cũ.
Lý Thông hớn hở đem đầu chằn tinh vào cung, khoe là mình giết được. Vua khen ngợi và phong hắn làm đô đốc.

Trong thời gian ấy, Công chúa con vua đã đến tuổi cập kê, có rất nhiều hoàng tử đến cầu hôn, nhưng công chúa không vừa ý ai, nên nhà vua lập hội kén rể.
Đang lúc sửa soạn gieo cầu thì bỗng một con đại bàng khổng lồ bay ngang qua, xà xuống bắt nàng đi mất.
Lúc bấy giờ Thạch Sanh đang ngồi dưới gốc cây đa, tình cờ thấy con đại bàng bay ngang qua, chân có cắp một người con gái. Sẵn cung tên vàng trong tay, chàng giương lên bắn theo một phát, mũi tên bay vút đến trúng ngay vào cánh con đại bàng.
Nó đau quá, đành phải hạ xuống, cắn răng nhổ mũi tên đi, rồi lại tha công chúa về hang.
Thạch Sanh lần theo vết máu rơi vung vãi trên mặt đất, tìm được chỗ ở của đại bàng là một cái hang nằm trên triền núi hiểm trở ở gần đấy.
Thấy con bị mất tích, nhà vua xiết bao đau đớn, vội sai đô đốc Lý Thông đi tìm, nếu tìm được thì hứa sẽ gả công chúa và truyền ngôi cho.
Lý Thông vừa mừng vừa sợ, không biết phải tính thế nào. Cuối cùng hắn nghĩ may ra chỉ có người em kết nghĩa hiền lành kia mới có thể gỡ bí cho mình.

Thấy Lý Thông nói đến việc tìm công chúa, Thạch Sanh thật thà kể lại chuyện mình bắn Đại Bàng cho hắn nghe.
Lý Thông mừng như bắt được vàng, lập tức nhờ chàng dẫn đường cho quân lính tiến đến hang đá.
Cửa hang ăn thông xuống lòng đất sâu thăm thẳm, không một tên lính nào dám xuống.
Thấy vậy, Thạch Sanh tình nguyện buộc dây vào lưng mình cho quân lính dòng xuống hang để thám thính.
Đại Bàng từ hôm bị thương về nằm liệt một chỗ, bắt công chúa phục dịch.
Thạch Sanh xuống đến nơi, ẩn vào một xó, chờ lúc công chúa một mình đi ngang qua, chàng mới ra hiệu cho nàng biết là có người đến cứu.
Thấy người con trai lạ kia liều chết cứu mình, công chúa vô cùng cảm phục.
Thạch Sanh nghĩ không dễ gì hạ Đại Bàng ngay được nên cần phải lập mưu mới cứu công chúa được an toàn. Chàng lấy thuốc mê bảo nàng bỏ vào bình rượu chuốc cho hắn uống say.
Chờ lúc Đại Bàng ngấm thuốc ngủ mê, chàng yên tâm dẫn công chúa đến chỗ mình đu dây xuống.
Công chúa vô cùng cảm kích trước tấm lòng của chàng trai lạ, nàng chỉ muốn hai người cùng lên một lượt, nhưng Thạch Sanh ngại sợi dây không đủ chắc để cùng lúc mang cả hai người lên, nên chàng nhường cho công chúa lên trước.

Chàng buộc chặt công chúa ở đầu dây rồi ra hiệu cho quân binh của Lý Thông kéo nàng lên trước.
Công chúa đành phải nghe lời chàng mà lòng xốn sang, không nỡ chia ly với người đã cứu mình.
Vừa được đưa lên khỏi miệng hang thì Lý Thông bảo là tuân theo lệnh vua, lập tức hối thúc quân lính đưa nàng lên kiệu hồi cung.
Đợi công chúa đi khuất, Lý Thông liền thực hiện âm mưu thâm độc nhằm giành lấy công trạng này, vì nhà vua đã hứa sẽ thưởng công cho ai cứu được nàng.
Thạch Sanh đang chờ đến lượt quân binh thòng dây xuống kéo mình lên thì bất ngờ, dây đai đâu chẳng thấy, chỉ thấy đá từ trên miệng hang tuôn xuống ầm ầm như trời sập.
Chàng đâu có biết đó chính là âm mưu thâm độc của Lý Thông, hắn đã ra lệnh cho quân binh vần đá lớn lấp kín cửa hang và cấm bất kỳ người nào quay trở lại để cứu chàng.
Thạch Sanh mò mẫm tứ phía nhưng không tìm ra được lối thoát. Chàng vô cùng tức giận đập phá khắp nơi khiến cho Đại Bàng thức giấc.
Thấy người lạ, lại thấy mất công chúa, nó bừng bừng nổi giận, xông ra toan giết Thạch Sanh.
Nhưng nhờ phép mầu tiên ông dạy ngày xưa nên chàng vung búa chống lại Đại Bàng rất kịch liệt.

Đại Bàng vốn là con yêu tinh tu luyện lâu năm nên tinh thông võ nghệ, tuy bị thương nhưng hắn cũng còn rất mạnh mẽ. Hai bên đánh nhau kịch liệt, đá bụi bay tứ phía.
Thạch Sanh rất sung sức càng đánh càng mạnh. Yêu tinh mất sức nên yếu dần, chả mấy chốc chuốc lấy thất bại.
Sau khi giết được yêu tinh, Thạch Sanh đi lục lọi khắp mọi nơi trong hang, ngờ đâu gặp một người con trai bị nhốt trong củi sắt, thì ra đó chính là thái tử con Vua Thủy Tề.
Hỏi ra mới biết là cách đây hơn một năm, thái tử đi du ngoạn thì bị Đại Bàng bắt đem về nhốt tại đây. Chàng bèn dùng cung vàng bắn tan cũi sắt, cứu thái tử ra.
Thái tử hết lời cảm tạ và mời chàng xuống chơi thủy phủ.
Vua Thủy Tề sung sướng được gặp lại con, biết được Thạch Sanh là ân nhân của mình nên tiếp đãi chàng rất hậu.
Khi Thạch Sanh cáo từ ra về, vua Thủy Tề tống tiễn rất nhiều vàng ngọc, nhưng chàng không nhận, chỉ xin có mỗi một cây đàn. Rồi trở lại túp lều xưa sinh nhai bằng nghề cũ. Ngày ngày, chàng lên rừng kiếm củi mang ra chợ bán, đêm về mang cây đàn Vua Thủy Tề tặng ra khảy đôi câu giải buồn.
Thời gian trôi đi, tiếng đàn của Thạch Sanh ngày càng điêu luyện và sâu lắng, cuộc sống nhờ thế mà thêm vui.

Lại nói về Chằn Tinh và Đại Bàng sau khi chết, hồn chúng nó không được ai cúng tế, đành lang thang đi kiếm ăn.
Một hôm chúng tình cờ gặp nhau và kể cho nhau biết vì đâu mà có số phận long đong như thế này. Hai đứa liền bàn với nhau tìm cách báo thù Thạch Sanh cho bỏ ghét.
Chúng lẻn vào kho vua ăn trộm của cải rồi mang đến gốc đa để vu vạ cho chàng là kẻ ăn cắp. Thạch Sanh mãi lo đàn nên không hề hay biết.
Quả nhiên sau đó, bọn lính nội thị cứ theo dấu tìm đến gốc đa thì bắt được tang vật, Thạch Sanh không ngờ đến, chẳng biết thanh minh ra làm sao nên bị quân binh bắt về cung và giam vào ngục tối.
Về phần công chúa, từ khi nàng được Lý Thông đưa về cung thì tự nhiên hóa câm, suốt ngày mặt hoa rầu rĩ không nói không cười.
Nhà vua đành hoãn lại việc cưới xin, sai Lý Thông mời các pháp sư tài giỏi có đủ phép thuật cao cường về cúng bái cho nàng hết bệnh.
Nhưng cầu mãi vẫn không ăn thua, công chúa ngày này sang ngày khác cứ im như thóc làm cho Lý Thông vô cùng sốt ruột.
Giữa lúc đó thì nghe tin Thạch Sanh bị bắt, thuộc quyền xét xử của hắn.
Lý Thông biết Thạch Sanh còn sống thì lo sợ lắm, hắn định nhân cơ hội này đem chàng ra xử tội chết để phi tang những tội ác của mình.
Trong khi ấy, Thạch Sanh ngồi trong ngục, buồn tình đem đàn của vua Thủy Tề ra gãy, không ngờ đấy là cây đàn thần, âm thanh vẳng ra lúc thì như ai oán, lúc thì như than vãn, như tức bực, kể hết nỗi lòng của chàng.
Tiếng đàn vang ra xa, bay vào hoàng cung, chất chứa bao nỗi muộn phiền, kể hết nỗi niềm nhớ nhung với người con gái gặp trong hang sâu.
Vừa nghe tiếng đàn, đột nhiên công chúa choàng dậy, bao hình ảnh dồn dập diễn ra trong lòng khiến nàng bừng tỉnh, nói cười vui vẻ.

Nhà vua vô cùng ngạc nhiên, không hiểu duyên cớ gì mà công chúa tự nhiên khỏi bệnh, ngài vui mừng khôn xiết đến hỏi con:
- Con yêu của ta! Con đã thật hết bệnh chưa? Vì cớ gì mà bao lâu nay con trở nên câm như thế?
- Thưa cha, con cũng chẳng biết nữa, nhưng xin cha hãy cho vời người đánh đàn vào đây thì mọi chuyện sẽ rõ ạ!
Nhà vua nghe lời con, liền sai quân binh đưa Thạch Sanh đến.
Trước mặt mọi người, chàng kể hết đầu đuôi thân phận của mình từ lúc mồ côi cho đến lúc kết bạn với Lý Thông và vì sao chàng phải bị giam vào ngục.
Nhà vua nghe qua câu chuyện của chàng trai hiền lành chất phác này thì trong lòng thương cảm, trong khi đó, Lý Thông thì càng lúc càng lo sợ.
Thạch Sanh kể tiếp chuyện cứu công chúa rồi bị nhốt trong hang sâu, nay nhờ có cây đàn thần của vua thủy tề nên mới giải được nỗi oan bấy lâu nay.
Nhà vua bừng bừng nổi giận, sai bắt giam hai mẹ con Lý Thông lại giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng nhớ lại tình xưa, rộng lượng tha cho họ về quê làm ăn, nhưng khi về đến nửa đường thì hai mẹ con bị sét đánh chết.
Thạch Sanh được nhà vua y lời gả công chúa cho. Lễ cưới diễn ra tưng bừng náo nhiệt khiến cho các hoàng tử chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn tức giận, họ hội họp binh lính mười tám nước lại, cất quân sang hỏi tội nhà vua, tại sao lại đem công chúa con mình gả cho một đứa khố rách áo ôm.
Thạch Sanh không lo sợ, chàng cầm đàn lên gảy và tiếng đàn vang lên khiến cho quân lính không còn ý chí đánh trận nữa, đành phải cuốn giáp quy hàng.
Thạch Sanh dùng niêu cơm thần dọn cho chúng ăn, cả bọn bĩu môi khinh dễ cho là chàng keo kiệt vì chỉ bày ra có một niêu cơm. Biết ý, chàng đố họ ăn hết niêu cơm sẽ được trọng thưởng. Quả nhiên, chúng ra sức ăn, nhưng niêu cơm hết vơi lại đầy nên sau khi ăn xong, chúng rập đầu lạy tạ và kéo nhau về nước.
Về sau nhà vua không có con trai nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.